Nguyên nhân gây bệnh thận ứ nươc

Thận ứ nước là tình trạng tắc đường dẫn niệu trong thận hoặc ngoài thận làm thận to lên vì chứa đầy nước tiểu. Thận ứ nước thuộc vào nhóm bệnh bệnh thận do tắc nghẽn.

Dù sự tắc nghẽn là ở niệu đạo, bàng quang – niệu quản hay ở cao hơn nữa thì nước tiểu được thận tiếp tục sản xuất cũng sẽ ứ lại do không bài xuất được. Trong những ngày đầu và một vài tuần đầu thận ứ nước cấp tính, chức năng thận vẫn được bảo tồn. Tuy nhiên, nếu tình trạng bệnh lí tắc nghẽn kéo dài, không được tháo gỡ có nguy cơ trở thành thận ứ nước mạn tính.

Do áp lực trong thận tăng lên chèn ép, các nephron chức năng sẽ bị hủy hoại, mức lọc cầu thận sẽ bị giảm sút, quá trình tái hấp thu và bài tiến của thận sẽ bị rối loạn. Cuối cùng thận ứ nước sẽ dẫn đến suy thận mạn tính. Mặt khác, nếu có kết hợp nhiễm khuẩn nặng, sinh mù bệnh nhân sẽ bị thận ứ mủ (pyonephrosia), nhu mô thận sẽ bị huỷ hoại, chứa đầy mủ, có khi phải phẫu thuật cắt bỏ thận.

Thận ứ nước là một benh than thường gặp cả ở trẻ em và người lớn. Tỉ lệ gặp qua tổng kết kết quả phẫu thuật tử thi ở những bệnh khoa lớn trên thế giới khoảng 3,5-3,8%. Trong thực tế lâm sàng bệnh có thể được phát hiện ít hơn. Có khoảng 15-20% bệnh nhân có hội chứng u rê máu cao do suy thận bị thận ứ nước.

Ở trẻ em sơ sinh, thận ứ nước thường là nguyên nhân gây khôi u ở bụng nếu không phải là thận đa nang. Camphell (1970) nghiên cứu kết quả sau phẫu thuật tử thi ở 15.919 trẻ em, đã phát hiện một tỷ lệ thận ứ nước là 1,99% tức là khoảng 2%, trong đó có 81% là trẻ em từ 1 tuổi trở xuống và 57,8% là trẻ em nam.

Ở phụ nữ vào tuổi trung niên trở lên bị thận ứ nước nhiều hơn nam giới, chủ yếu do thai sản và ung thư tử cung.

Ở nam giới, tuổi trẻ, cứ 1.000 bệnh nhân vào viện trên khoảng 220.000 dân là có 1 người bị tắc đường niệu do sỏi gây thận ứ nước cấp tính.

Ở Việt Nam, chưa có những thống kê mẫu lớn nhưng thận ứ nước và triệu chứng bệnh thận yếu cũng là một bệnh thường gặp.

Nguyên nhân thận ứ nước

Ở trẻ em thường do tổn thương bẩm sinh như: Phụt ngược bàng quang – niệu quản, gặp nhiều nở trẻ em nữ, nhưng ở người lớn cũng có một số người bị; có van niệu đạo.

Ở phụ nữ thường do: Có thai, thai chèn ép vào niệu quản; Ung thư ùng chậu hông.

Ở người trẻ thường do: Sỏi thận – tiết niệu: Dị dạng bẩm sinh.

Ở người có tuổi, thường do: U xơ tuyến tiền liệt: Ung thư bể thận; Ung thư tuyến tiền liệt; Ung thư bể thận; Rối loạn chức năng thần kinh bàng quang.

Nhìn chung có ba cơ chế gây tắc đường dẫn niệu dẫn đến thận ứ nước: Tắc cơ giới trong lòng ống dẫn niệu như sỏi, u dị dạng bẩm sinh; Tắc cơ giới do chèn ép từ ngoài vào như u, có thai, sa sinh sục. Tổn thương chức năng hoặc thực thể niệu đạo, bàng quang, niệu quản.

Hậu quả của thận ứ nước là sự huỷ hoại về cấutrúc dẫn đến sự suy cụp chức năng của thận. Nếu tắc hoàn toàn thì chỉ trong vòng 6 tuần lễ là suy thận cấp và mạn tính, khó hồi phục.

Ngay sau khi bị tắc, ví dụ do sỏi gây tắc niệu quản thì áp suất ở bể thận và ống thận bị tăng cao gây giãn bể thận và ống thận làm núm thận bị dẹt lại.

 

Tác giả: wp_120_haquangtruong

Comments

comments